<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <title>DSpace Collection:</title>
  <link rel="alternate" href="https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/76" />
  <subtitle />
  <id>https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/76</id>
  <updated>2026-04-20T11:02:35Z</updated>
  <dc:date>2026-04-20T11:02:35Z</dc:date>
  <entry>
    <title>Đánh giá nguồn gió trong khu vực tương đương với diện tích của một nhà máy điện gió: Phương pháp</title>
    <link rel="alternate" href="https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/501" />
    <author>
      <name>Đinh Văn Thìn, Trường Đại học Điện lực</name>
    </author>
    <author>
      <name>Nguyễn Hữu Đức, Trường Đại học Điện lực</name>
    </author>
    <author>
      <name>Lê Quang Sáng, Viện Khoa học Năng lượng - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam</name>
    </author>
    <id>https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/501</id>
    <updated>2023-11-16T09:52:25Z</updated>
    <published>2023-02-28T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Đánh giá nguồn gió trong khu vực tương đương với diện tích của một nhà máy điện gió: Phương pháp
Authors: Đinh Văn Thìn, Trường Đại học Điện lực; Nguyễn Hữu Đức, Trường Đại học Điện lực; Lê Quang Sáng, Viện Khoa học Năng lượng - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Abstract: Khảo sát nguồn gió tại một khu vực cụ thể là một trong các giai đoạn đầu tiên và quan trọng để có thể tiến hành xây dựng một nhà máy điện gió. Trên thực tế, các phần mềm dự báo khí tượng hiện nay thường chỉ tiến hành các tính toán trên phạm vi rộng lớn và những kết quả đưa ra cũng mang tính chất đại diện, giá trị trung bình cho toàn bộ khu vực. Trong bài báo này, chúng tôi sẽ trình bày một phương pháp đánh giá nguồn gió trong một khu vực nhỏ, tương đương với phạm vi của một nhà máy điện gió. Khu vực được lựa chọn để xây dựng mô hình là phần đồi núi thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Phương pháp Động lực học chất lưu tính toán (CFD) trong phần mềm Ansys CFX và dữ liệu Blender GIS sẽ được sử dụng để mô hình hóa chính xác địa hình của khu vực và tiến hành các phân tích chuyển động của gió tại khu vực này. Kết quả nhận được là các giá trị của vận tốc gió theo độ cao trong toàn bộ không gian ba chiều của mô hình, đặc biệt là tại các vị trí đặc trưng như là thung lũng, sườn núi và đỉnh núi. Dựa trên các kết quả thu được, chúng ta có thể xác định chính xác phân bố vận tốc gió tại từng vị trí cụ thể và từ đó có thể xác định được các vị trí tốt nhất để lắp đặt các trụ tuabin điện gió.</summary>
    <dc:date>2023-02-28T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>Đánh giá khả năng phân hủy DIOXIN của một số chủng vi khuẩn lập từ đất ô nhiễm tại sân bay A SO (Huế)</title>
    <link rel="alternate" href="https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/500" />
    <author>
      <name>Nguyễn Thị Tâm Thư, Viện Công nghệ mới</name>
    </author>
    <author>
      <name>Nguyễn Văn Hoàng, Viện Công nghệ mới</name>
    </author>
    <author>
      <name>Phạm Kiên Cường, Viện Công nghệ mới</name>
    </author>
    <author>
      <name>Lê Minh Trí, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự</name>
    </author>
    <id>https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/500</id>
    <updated>2023-11-16T09:46:37Z</updated>
    <published>2023-02-28T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Đánh giá khả năng phân hủy DIOXIN của một số chủng vi khuẩn lập từ đất ô nhiễm tại sân bay A SO (Huế)
Authors: Nguyễn Thị Tâm Thư, Viện Công nghệ mới; Nguyễn Văn Hoàng, Viện Công nghệ mới; Phạm Kiên Cường, Viện Công nghệ mới; Lê Minh Trí, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự
Abstract: Sân bay A So là một trong các điểm nóng về ô nhiễm dioxin do hậu quả của chiến tranh. Phân hủy sinh học các đồng phân dioxin bởi vi sinh vật là phương pháp thân thiện môi trường, có khả năng phục hồi vùng đất ô nhiễm. Trong nghiên cứu này, từ các mẫu đất ô nhiễm dioxin tại sân bay A So (Thừa Thiên Huế), 9 chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ khó phân hủy được phân lập. Trong đó có 2 chủng có khả năng phân hủy cả 17 đồng phân dioxin ở nồng độ cao được định danh. Chủng AS2 thuộc chi Klebsiella và được đặt tên là Klebsiella sp. AS2, có mã số đăng ký trên GenBank là ON890383. Chủng AS3 thuộc chi Bacillus và được đặt tên là Bacillus sp. AS3, có mã số đăng ký trên GenBank là ON890397. Hai chủng có khả năng phân hủy 17 đồng phân dioxin với hiệu suất từ 1,47 % đến 100% sau 30 ngày tùy từng loại đồng phân. Tổng độ độc trong mẫu nuôi cấy 2 chủng AS2 và AS3 giảm tương ứng là 71,83% và 41,73% với tổng độ độc ban đầu là 3000 pg/ml. Chủng AS2 và AS3 phân hủy 2,4-D với hiệu suất 68,61% và 52,32% tương ứng với nồng độ 2,4-D ban đầu là 200 ppm. Cũng với nồng độ này, hai chủng phân hủy 2,4,5-T với tỷ lệ 72,14% và 59,73%.</summary>
    <dc:date>2023-02-28T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>Khảo sát ảnh hưởng độ pH của METHYL đỏ hấp thụ trên tấm vuông NANO bạc lên phổ tán xạ RAMAN tăng cường bề mặt</title>
    <link rel="alternate" href="https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/499" />
    <author>
      <name>Phạm Thị Thu Hà, Trường Đại học Khoa học- ĐH Thái Nguyên</name>
    </author>
    <author>
      <name>Vũ Xuân Hòa, Trường Đại học Khoa học- ĐH Thái Nguyên</name>
    </author>
    <author>
      <name>Nguyễn Thị Loa, Trường Đại học Khoa học- ĐH Thái Nguyên</name>
    </author>
    <id>https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/499</id>
    <updated>2023-11-16T09:40:42Z</updated>
    <published>2023-02-28T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Khảo sát ảnh hưởng độ pH của METHYL đỏ hấp thụ trên tấm vuông NANO bạc lên phổ tán xạ RAMAN tăng cường bề mặt
Authors: Phạm Thị Thu Hà, Trường Đại học Khoa học- ĐH Thái Nguyên; Vũ Xuân Hòa, Trường Đại học Khoa học- ĐH Thái Nguyên; Nguyễn Thị Loa, Trường Đại học Khoa học- ĐH Thái Nguyên
Abstract: Trong nghiên cứu này chúng tôi giới thiệu kết quả khảo sát ảnh hưởng của độ pH của MR lên phổ tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) khi chúng hấp phụ trên đế nano bạc dạng cầu (Ag-NPs) và dạng tấm vuông (Ag-PS). Các nano bạc dạng tấm vuông được chế tạo bằng phương pháp quang hoá dưới kích thích của ánh sáng LED xanh lá (l = 532 nm) lên dung dịch các mầm nano bạc. Các nano bạc sau chế tạo được khảo sát các tính chất như: Tính chất quang bằng phổ hấp thụ (UV-Vis), cấu trúc tinh thể bằng giản đồ nhiễu xạ tia X (XRD), hình thái kích thước hạt bằng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) và kính hiển vi điện tử quét (SEM). Phổ tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) được sử dụng để khảo sát ảnh hưởng của độ pH = 2,01; 3,91; 5,1; 6,36 và 8,96. Kết quả chỉ ra rằng khi pH&lt;5 cường độ phổ Raman tăng cường mạnh tại 1609 cm-1 trong khi pH&gt;5 thì tăng cường tại 1396 cm-1. Đặc biệt, ở pH=2,01 logrit của cường độ Raman tại 1609 cm-1 phụ thuộc tuyến tính với logarit nồng độ và giới hạn phát hiện 3*10-8 M.</summary>
    <dc:date>2023-02-28T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
  <entry>
    <title>Nâng cao đặc tính nhạy khí ở nhiệt độ phòng của cảm biến khi NH3 dựa trên vật liệu tổ hợp NANO các bon và hạt NANO ZnO</title>
    <link rel="alternate" href="https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/498" />
    <author>
      <name>Dương Vũ Trường, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội</name>
    </author>
    <author>
      <name>Nguyễn Quang Thành, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội</name>
    </author>
    <author>
      <name>Nguyễn Hữu Lâm, Viện Vật lý kỹ thuật - Đại học Bách khoa Hà Nội</name>
    </author>
    <id>https://thuvienso.tnut.edu.vn/handle/123456789/498</id>
    <updated>2023-11-16T09:35:31Z</updated>
    <published>2023-02-28T00:00:00Z</published>
    <summary type="text">Title: Nâng cao đặc tính nhạy khí ở nhiệt độ phòng của cảm biến khi NH3 dựa trên vật liệu tổ hợp NANO các bon và hạt NANO ZnO
Authors: Dương Vũ Trường, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội; Nguyễn Quang Thành, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội; Nguyễn Hữu Lâm, Viện Vật lý kỹ thuật - Đại học Bách khoa Hà Nội
Abstract: Do nhu cầu cần cảm biến nhạy khí NH3 có đặc tính nhạy khí tốt, hoạt động ở nhiệt độ phòng, chúng tôi đã chế tạo cảm biến kiểu điện trở dựa trên vật liệu tổ hợp của ôxit ZnO và vật liệu nano các bon (ống nano các bon - CNT, graphene ôxit - GO). Trong đó, CNT được tổng hợp bằng phương pháp bốc bay lắng đọng pha hơi hóa học, GO được tổng hợp bằng phương pháp Hummers, ZnO được tổng hợp bằng phương pháp sol-gel. Cấu trúc của các vật liệu và tổ hợp vật liệu được khảo sát thông qua ảnh hiển vi điện tử quét phát xạ trường và phổ Raman. Tính chất nhạy với khí NH3 của các cảm biến với tỉ lệ các thành phần của vật liệu tổ hợp được khảo sát ở nồng độ 60 ppm. Kết quả cho thấy các cảm biến dựa trên vật liệu tổ hợp đều cho độ đáp ứng cao hơn so với cảm biến dựa trên vật liệu thuần. Đặc biệt, với vật liệu tổ hợp CNT/GO/ZnO cho độ đáp ứng tốt, lên tới 17,3%, thời gian đáp ứng và thời gian hồi phục  cải thiện đáng kể tương ứng là 40s và 70s. Cơ chế nhạy khí dựa trên chuyển tiếp p- n giữa vật liệu nano các bon và ZnO là nguyên nhân tăng cường đặc tính nhạy khí của cảm biến dựa trên vật liệu tổ hợp.</summary>
    <dc:date>2023-02-28T00:00:00Z</dc:date>
  </entry>
</feed>

